You are currently viewing <strong>Nghi lễ cúng 13 mâm cỗ và truyền thuyết “Bà chúa trầm hương”</strong>

Nghi lễ cúng 13 mâm cỗ và truyền thuyết “Bà chúa trầm hương”

Xưa nay, trầm hương luôn được coi là món quà của đất trời. Trầm hương là một loại gỗ rất quý hiếm, người xưa có câu “tìm trầm ngậm ngải” để nói lên sự khó khăn trong việc tìm kiếm loại trầm hương này. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết truyền thuyết về loại thiên địa linh hương này. Hãy cùng Tâm Phúc cùng tìm hiểu về truyền thuyết “Bà chúa trầm hương” nhé.

Chuyện về “Bà chúa trầm hương”

Rằng xưa, nghề đi trầm hương bắt nguồn từ thánh địa Pô Nar Gar dưới chân núi Đại An (huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa). Nữ thần Thiên Y A Na – “Bà chúa trầm hương” là tổ nghề trầm, sự ra đời của bà có một giai thoại, một sự hiển linh rất thần thánh và huyền bí. Theo sử sách xa xưa, vùng đất Khánh Hòa từng là xứ trầm hương của Vương quốc Chămpa hùng mạnh một thời. Đây là nơi xảy ra nhiều câu chuyện huyền bí về sự xuất hiện của các vị thần. Một trong số đó là Nữ thần Thiên Y A Na, người phù hộ và độ trì cho những ai đang trên hành trình tìm trầm. Nữ thần Thiên Y A Na trong tiếng Chăm là Ponagar, được sinh ra từ ánh sáng và bọt biển từ vùng khơi xa với câu chuyện nữ thần được sinh ra cũng rất ly kỳ.

Ngày xửa ngày xưa trên núi Đại An, có một đôi vợ chồng già không con cái trồng dưa trên sườn núi. Nhưng mỗi khi dưa chín quả nào là mất quả đó. Lâu ngày hai vợ chồng sinh nghi, quyết bắt kẻ trộm dưa của mình. Đúng như dự đoán của ông bà lão, đêm hôm đó khi họ đang trông dưa thì một cô gái xinh đẹp đến hái trộm dưa trong vườn. Lúc này, ông già chạy đến và bắt lấy nàng. Nhưng vì cô gái nhỏ nhắn xinh đẹp lại không có cha mẹ nên hai vợ chồng già không nỡ trừng phạt mà đem cô về nhà nuôi nấng như con của mình. Nàng tên là Thiên Y A Na.

Một mẫu Kỳ Nam

Một hôm trời mưa gió bất chợt, khung cảnh ảm đạm, cô gái xếp những viên đá lại thành ba hòn non bộ, cắm hoa lá lên cho vui. Thấy cô gái chơi trò chơi không phù hợp với lứa tuổi của mình, ông lão đã mắng cô. Cô buồn, chợt thấy khúc gỗ trôi theo dòng nước, cô gái liền hóa thân vào khúc gỗ kia, để sóng cuốn khắp nơi rồi dạt trôi vào bờ biển nước Trung Hoa. Lạ thay, mùi hương từ khúc gỗ tỏa ra thơm ngào ngạt khiến nhiều người tò mò kéo đến xem thử rồi đặt tên nó là Kỳ Nam ( Có nghĩa là khúc gỗ kỳ lạ từ phương Nam ?! ) . Lúc này, người dân địa phương lần lượt tập trung lại để vớt Kỳ Nam quý giá về nhà, nhưng dù họ có hợp sức thế nào cũng không thể nâng nó lên được. Từ trong cung nghe được tin lạ, Bắc Hải hoàng tử đến tìm hiểu, lúc này Kỳ Nam trong tay hoàng tử bỗng nhiên nhẹ đến không ngờ.

Vào một đêm trăng sáng, hoàng tử vô tình nhìn thấy một cô gái xinh đẹp hóa hiện từ trong Kỳ Nam. Hoàng tử vội ôm lấy nàng rồi xin vua cha cho phép lấy nàng làm vợ. Sau một thời gian sống trong cung điện lộng lẫy, một hôm nàng chợt nhớ đến cha mẹ nên hóa thành Kỳ Nam trôi về cố hương.

Khi đi ngang qua vườn dưa cũ, mọi thứ vẫn còn đó, ngoại trừ cha mẹ năm xưa không còn. Thiên Y A Na đau lòng vì không còn được gặp cha mẹ, nàng rơi nước mắt buồn đau. Để đền đáp công ơn mảnh đất đã từng nuôi nấng mình, Thiên Y Na đã hóa phép ra bốn cây trầm hương quý theo bốn hướng từ đông, tây, nam, bắc trấn ở tỉnh Khánh Hòa rồi cưỡi hạt bay lên trời và không quay lại nữa.

Hiện nay, dấu vết của cây trầm hương tứ quý vẫn còn nhưng được “linh vật” canh giữ cẩn thận không cho ai nhìn thấy, nếu ai lại gần nó sẽ biên mất, rồi một thời gian sau sẽ trở về vị trí cũ. Đó là một cây ở Đồng Bò (TP. Nha Trang) ở phía Nam; một cây ở Hòn Bà (huyện Ninh Hòa) ở phía Bắc; một cây ở Hòn Dù (huyện Duyên Khánh) trấn phía Tây và một ở Suối Ngô (huyện Duyên Khánh) trấn ở phía Đông. Tương truyền những cây trầm hương này trụi lá, không giác, mưa nắng gì cũng không hư, được coi như báu vật của làng.

Trước khi lên đường phải dâng cúng thần 13 mâm cỗ

Không chỉ dành cho các “phu trầm” mà bất cứ ai bước vào nghiệp “địu” đều phải biết những tín ngưỡng này. Bởi họ luôn tin rằng dù ở đâu thì cây trầm hương cũng là hóa thân của nữ thần Thiên Y A Na cao quý nên họ phải cung kính trước mặt bà. Hơn nữa, con đường của các “phu trầm’ thường nguy hiểm và gian nan, bởi vì họ phải sống trong những cánh rừng âm u, ẩm thấp trong một thời gian dài. Các phu rất cẩn thận để không mắc phải những sai lầm phạm thánh. Bởi vì họ tin rằng có những thần linh ở nơi rừng thiên nước độc và nếu mình tôn trọng họ, họ sẽ giúp mình.

Ngoài việc chọn trưởng nhóm (phu trầm chồng dẫn dắt đội), người ta cũng cần chọn những người hợp tuổi vào nhóm. Một nhóm khoảng 7-15 người tùy đoàn. Trưởng đoàn thường là những người có kinh nghiệm lâu năm trong nghề trầm hương, ngoài ra họ còn phải biết cách điều hành đội nhóm, và quan trọng nhất là Trưởng đoàn phải rành các nghi lễ thờ cúng trước khi vào khai thác trầm hương. Chỉ một ít người được chỉ định sẽ thực hiện nghi lễ “Thỉnh tượng”. Sau đó, họ rước tượng thần về và đặt nó vào một chiếc lồng kính với sự trang nghiêm như các họ thờ tổ tiên.

Mọi người thường quan niệm rằng các loài động vật trong rừng là hóa thân của các vị thần, vì vậy “phu trầm” kiêng gọi chúng bằng tên, và thường gọi trại đi để khỏi phạm. Ví dụ, gọi hổ là “Ông Thầy”, rắn thì gọi là “Cổ dài”, trăn thì gọi là “Ngụa bà”, lợn thì gọi là “Dúi”…

Tương tự như vậy với các loại khác như Gạo (Me), Muối (Diêm), đi lạc (Lục xính), chảy máu (chảy mắm). Vì sợ Thánh Nữ quở phạt, hầu hết các phu kiên một số loại thịt, nhất là kỳ đà (vì sợ xui) và trăn, rắn (vì đó là vật cửi của Nữ Thần). Sau khi vào rừng tìm trầm, các phu trầm sẽ tìm một bãi đất trống, sạch sẽ và yêu cầu cả nhóm đặt lễ vật lên một tấm trải trên mặt đất. Sau khi thắp hương xin phép “thần rừng”, mọi người mới bắt đầu cắm trại nghỉ ngơi qua đêm.

Rạng sáng hôm sau, mọi người dậy sửa soạn cúng bái trước khi vào rừng. Điều đáng chú ý là người khiêng địu phải bê đủ 13 mâm lễ vật, mâm cúng chủ yếu là các món chay. Các món cúng thường là xôi trắng, cháo trắng, bánh, nhang, đặc biệt là một vài nén trầm hương. Sau đó, người ta chọn những tảng dá vuông để đặt những lễ vật này, và Bầu địu chịu trách nhiệm phân loại các tờ tiền để chuẩn bị lễ vật. Mâm lễ phải chia thành 13 mâm, mâm cúng “Bà cậu 2” (đây là tên người khiêng và dùng để chỉ Thánh Mẫu Thiên Y A Na) là lớn nhất, đặt ở vị trí chính giữa và cao nhất so với các mâm khác. Tắm rửa, thay quần áo tươm tất, Trưởng đoàn làm lễ cúng. Loại nghi lễ này bắt đầu trước năm 1975, và chỉ những phu trầm lâu năm mới biết về nó. Các phu trầm sau này cũng tổ chức buổi lễ, nhưng theo cách đơn giản hơn. Nội dung của nghi lễ này là để cầu mong sự phù hộ của Thần Trầm hương, để người đi phu sẽ may mắn lấy được trầm hương. Bởi ai cũng biết Bà Chúa trầm chính là nữ hoàng cai quản từng khúc trầm hương rừng, và chỉ còn cách xin bà “phù hộ” cho phu trầm và cầu bình an cho mọi người. Đây cũng là tâm thức ngàn đời của người dân nơi đây vẫn luôn tin tưởng, gửi gắm niềm tin vào trời đất và hướng đến ngày mai tốt đẹp hơn.

“Tổng hợp”

Bài viết này có 1 bình luận

  1. Mỹ Uyên

    Việt Nam mình nghề nào cũng có Tổ. Giờ mới nghe có Bà Tổ Trầm. Hay

Trả lời